Varena - Italie -Nov 2023

Varena - Italie -Nov 2023

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2008





TRUY NẠP CHƯƠNG TRÌNH

NATO : Có thể kết nạp thêm ba thành viên vùng Balkans

05/03/2008_ Ngoại trưởng 26 nước thành viên khối NATO, ngày mai, sẽ nhóm họp hội nghị tại Bruxelles. Hồ sơ ưu tiên trong chương trình nghị sự là chuẩn bị đón nhận làm thành viên thực thụ của NATO ba nước vùng Balkans là Croaxia, Albani và Macédônia. Việc này trên nguyên tắc sẽ được chính thức hóa nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh của NATO tại Bucarest, thủ đô Roumani dự trù diễn ra ngày mồng 2 tháng tư sắp tới. Dự án mở rộng khối NATO tại vùng Balkans được xem là nỗ lực ổn định khu vực này. Đây là nhu cầu thiết yếu sau khi Kosovo tuyên bố độc lập, một việc đã gây rúng động cho các quốc gia láng giềng và tạo điều kiện cho Liên bang Nga cũng cố ảnh hưởng của mình tại Serbia.

Trong số ba nước nêu trên, điều chắc chắn ngày hôm nay là trường hợp Croaxia và Albani đã tạo được đồng thuận trong khối NATO. Hai nước này có nhiều hy vọng sẽ không bỏ lỡ cơ hội chuyến tàu NATO vào tháng 4 sắp tới . Trong khi đó, đơn xin gia nhập NATO của Macédonia đang bị Hy Lạp, một thành viên kể từ hơn nửa thế kỷ của khối này, phản đối. Lý do là Hy Lạp vẫn đặt yêu sách đòi Macédonia đổi tên nước, bởi vì theo Athens, cái tên Macédonia trùng hợp với một vùng đất của Hy Lạp.

Từ đây đến đầu tháng tư, các giới chức NATO mong mỏi sẽ tháo gỡ xong những rắc rối vừa kể, để cả ba nước vùng Balkans nhận được lời mời và sẽ được kết nạp vào NATO cùng một chuyến. Trong trường hợp không giải tỏa được bế tắc vào lúc này, nhiều nhà ngoại giao e ngại rằng Hội nghị Bucarest vào tháng tới sẽ quyết định mời duy nhất Croaxia làm thành viên thực thụ. Đơn của ứng viên Macédonia sẽ bị dời lại vào một dịp khác và việc này sẽ ảnh hưởng đến Albani. Ứng viên Albani có nguy cơ bị đánh trượt chỉ vì lý do NATO có thể đề nghị quốc gia này hãy chờ đợi đến lượt mình cùng Macédonia để cho nước này khỏi bị lẻ loi và mất thể diện. Kỳ thực, vận hội cả ba nước vùng Balkans gia nhập NATO được đánh giá là tất yếu, sớm muộn gì cũng sẽ đến, bởi lẽ cả ba nước này đã ký kết thỏa thuận mang tên Ổn định và Liên kết với Liên Hiệp châu Âu, chặng đường đầu tiên cho phép Croaxia, Albani và Macédonia gõ cửa đại gia đình châu Âu một ngày không xa. Một khi được công nhận quy chế thành viên NATO, ba nước vùng Balkans sẽ tiến thêm một bước để mở rộng cánh cửa của Liên Hiệp châu Âu. Xin nhắc lại tiến trình hội nhập NATO và sau đó gia nhập Liên Hiệp châu Âu đã trở thành con đường truyền thống cho các quốc gia cộng sản Đông Âu ngày trước, với hai mục tiêu bất di bất dịch hơn một thập niên qua : Đó là được bảo đảm phát triển kinh tế với Liên Hiệp châu Âu.

Đây không phải là trường hợp của Gruzia và Ukraina. Hai nước này đang rất nóng lòng được NATO mời làm thành viên nhân Hội nghị Bucarest tháng tới. Hôm nay, tại Matxcơva, phái viên của NATO, ông Robert Simmons đã cho biết, khối này không đạt đưọc đồng thuận về việc mời Gruzia và Ukraina. Tham vọng của Tổng thống Gruzia và UKraina sớm chiếm được quyền làm thành viên câu lạc bộ NATO khó mà biến thành hiện thực trong bối cảnh hiện nay. Nội tình của cả hai quốc gia vừa kể trước đây thuộc lãnh thổ Liên Xô cũ, đã không mấy sáng sủa, tỷ lệ ủng hộ gia nhập Hiệp ước Tổ chức Bắc Đại Tây Dương trong công luận hai nước này cũng không rõ ràng, đặc biệt là tại Ukraina. Chẳng những vậy, Liên bang Nga chắc chắn sẽ phản đối quyết liệt triển vọng NATO mở rộng hàng ngũ vào lúc này, ngay tại sân sau của Matxcơva. Rất có thể, NATO còn chờ cơ hội Gruzia giảm thiểu căng thẳng trên hai vùng đất đòi ly khai là Apkhazia và Nam Ossetia và Ukraina cải tổ hơn nữa, trước khi xem xét cụ thể đơn xin gia nhập của hai quốc gia này.
Bảo Thạch
(Ảnh : www.intellnet.org)

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2008





TRUY NẠP CHƯƠNG TRÌNH

TRUNG QUỐC : Lại tăng ngân sách quốc phòng

04/03/2008_ Hoa Kỳ lo ngại trước sự bành trướng sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

Khi loan báo tăng 17,6% ngân sách quân sự 2008, phát ngôn viên Quốc hội Trung Quốc hôm nay nhấn mạnh rằng tính trên tổng sản phẩm nội địa và tổng ngân sách, thì ngân sách quốc phòng của Trung Quốc vẫn chiếm tỷ lệ thấp hơn các cường quốc khác. Tuy vậy, cho tới nay, quốc tế vẫn tỏ vẻ hoài nghi về các số liệu chính thức về chi tiêu quân sự do Bắc Kinh đưa ra.

Hôm qua, Lầu Năm góc đã công bố bản báo cáo bày tỏ mối quan ngại của Hoa Kỳ trước tính chất thiếu minh bạch của sự bành trướng sức mạnh quân sự Trung Quốc. Bản báo cáo viết rằng vẫn còn rất nhiều điểm chưa rõ ràng về định hướng tương lai của Trung Quốc, đặc biệt là về sự bành trướng sức mạnh quân sự và về cách thức mà sức mạnh quân sự này có thể được sử dụng. Theo Lầu Năm góc, Trung Quốc hiện đang phát triển những tên lửa có khả năng bắn vào các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm khác. Bắc Kinh hiện cũng đang thử nghiệm các loại vũ khí tiêu diệt vệ tinh nhân tạo. Bản báo cáo của bộ Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh rằng tính chất thiếu minh bạch về mặt quân sự và an ninh của Trung Quốc đang tạo ra một nguy cơ đối với sự ổn định bởi vì nó làm tăng thêm những khả năng xảy ra những sự hiểu lầm và những sai sót. Theo Lầu Năm góc, Trung Quốc hiện đại hóa quân đội nhằm chuẩn bị cho những sự kiện có thể xảy ra ở vùng eo biển Đài Loan, trong đó có khả năng Hoa Kỳ can thiệp khi xảy ra khủng hoảng. Nhưng bên cạnh đó Trung Quốc còn phát triển tiềm năng quân sự nhằm những chuẩn bị cho những hoàn cảnh khác, chẳng hạn tranh chấp về các nguồn tài nguyên hoặc tranh chấp lãnh thổ. Bản báo cáo của bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận rằng nhịp độ và tầm mức của hiện đại hóa quân sự Trung Quốc đã gia tăng trong những năm gần đây, thể hiện qua việc mua thêm các vũ khí nước ngoài, tăng đầu tư vào các ngành công nghiệp quốc phòng, khoa học và công nghệ và cải tổ sâu rộng cơ cấu của quân đội. Bản báo cáo của Lầu Năm góc kết luận rằng việc bành trướng sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang làm thay đổi cán cân quân sự ở Đông Á và việc cải thiện khả năng chiến lược của Bắc Kinh có những tác động vượt khỏi vùng châu Á Thái Bình Duơng.

Bắc Kinh hôm nay dĩ nhiên đã bác bỏ bản báo cáo của Lầu Năm gốc, cho rằng tài liệu này bóp méo sự thật một cách nghiêm trọng và là một mưu toan can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng họ không bao giờ là mối đe doạ đối vói các quốc gia khác và kêu gọi Hoa Kỳ từ bỏ tâm lý chiến tranh lạnh. Cho tới nay, Bắc Kinh vẫn nhấn mạnh rằng chính sách quân sự của Trung Quốc chỉ nhằm vào mục đích phòng thủ. Nhưng các nước láng giềng của Trung Quốc ngày càng cảm thấy bị đe doạ, cụ thể là Nhật Bản đã có phản ứng ngay lập tức sau khi Bắc Kinh loan báo tăng ngân sách quốc phòng. Việt Nam, quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông với Trung Quốc, dĩ nhiên càng phải dè chừng hơn anh láng giềng phương Bắc, nhất là vì Bắc Kinh ngày càng để lộ rõ ý đồ xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng sa và Trường Sa.
Thanh Phương
(Ảnh : www.economist.com)

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2008





TRUY NẠP CHƯƠNG TRÌNH

PHILIPPINES : Cơ may cuối cùng đối với Arroyo

03/03/2008_ Giáo hội công giáo Philippines giúp Tổng thống Arroyo cơ may cuối cùng để tránh bị dân chúng lật đổ.

Phong trào đối lập tại Philippines đòi Tổng thống Gloria Aroyo từ chức mỗi ngày mỗi mạnh thêm. Cuối tuần qua, hai cựu tổng thống, ông Joseph Estrada và đặc biệt là bà Corazon Aquino, người đánh bại nhà độc tài Ferdinan Marcos cách nay 22 năm về trước đã dẫn đầu một cuộc biểu tình huy động hơn 25 ngàn người tại Manila, với khẩu hiệu « Gloria phải làm sáng tỏ sự thật và phải từ chức ». Theo Reuters, nhiều linh mục đứng chung với sinh viên phất biểu ngữ « giã từ Tổng thống ».

Từ nhiều tháng nay, công luận Philippines tố cáo chồng của Tổng thống dính líu vào một vụ tham ô, liên quan tới một hợp đồng thương mại ký với một công ty Trung Quốc khoảng 330 triệu đôla. Sự kiện cựu tổng thống Corazon Aquino hiện diện bên cạnh cựu Tổng thống Estrada là một điều hy hữu. Vào năm 2001, bà Aquino đứng chung với phong trào xuống đường chống Tổng thống Estrada bị quy tội tham ô, cuối cùng đã làm cho ông ta phải nhường ghế Tổng thống lại cho Phó Tổng thống Arroyo. Vào năm 1986, một triệu người Philippines đã tràn ngập đường phố thủ đô Manila. Cuộc nổi dậy đã đuổi nhà độc tài Ferdinand Marcos ra khỏi nước, đưa bà Aquino lên làm vị Tổng thống dân cử đầu tiên.

Câu hỏi đặt ra là liệu Tổng thống Arroyo có thoát khỏi số phận của hai người tiền nhiệm là Marcos và Estrada hay không ? Theo giới phân tích tại Manila, bà Arroyo đã tránh được ba âm mưu đảo chính và ba lần bị đe dọa truất phế trước nghị viện, vận may của bà chưa hẳn đã hết. Quân đội và cảnh sát vẫn còn trung thành. Quan trọng hơn cả là Giáo hội Công giáo Philippines, biểu tượng cho tinh thần đạo đức của quốc gia có đông đảo tín đồ Thiên Chúa giáo nhất tại Á châu, chưa bỏ rơi bà Arroyo. Vào lúc phong trào dân chúng chống tệ nạn tham nhũng trong thượng tầng chính phủ chờ đợi Giáo hội kêu gọi bà Arroyo từ chức thì Hội động Giám mục chỉ lên án « tệ nạn tham ô trầm kha » trong chính phủ.

Thái độ của Giáo hội được xem như là một ân huệ đối với Tổng thống Arroyo vì Giáo hội luôn đóng một vai trò then chốt trong việc lật đổ các nhà lãnh đạo bê bối trong quá khứ. Sinh thời, Hồng y Jaime Sin, lãnh đạo Giáo hội Công giáo Philippines đã nhiều lần lên tiếng phê phán chế độ độc tài của Ferdinand Marcos trong thập niên 80 và cũng chính Ngài đã ủng hộ phong trào chống Tổng thống Estrada năm 2001. Tuy Hội đồng Giám mục Philippines hiện nay không yểm trợ cho phong trào đòi Tổng thống từ chức, nhưng điều này không có nghĩa là Giáo hội hậu thuẫn chính quyền tham ô. Chuyên gia Ramon Casiple, Giám đốc Viện Cải cách Kinh tế Chính trị ở Manila giải thích : « Giáo hội Công giáo chỉ tạm cho bà Arroyo có thêm thời gian để suy nghĩ. Thái độ của Giáo hội chỉ làm cho công luận tạm thời lắng dịu. Giờ đây, bà Arroyo phải nhanh chóng thay đổi ». Một nhà phân tích khác thân cận với bộ Quốc phòng là ông Rommel Balaoi nói rằng : « Tổng thống phải chứng tỏ mình là một người đáng tin cậy, phải tỏ ra minh bạch trong việc quản lý đất nước. Nếu không, bà có nguy cơ bị quân đội bỏ rơi ».

Vẫn theo các nhà phân tích Philippines, sự thủy chung của các tướng lãnh đối với Tổng thống Arroyo có thể mất đi bất cứ lúc nào. Sở dĩ hiện nay chưa sĩ quan nào lên tiếng chống bà, vì họ tuân lịnh thượng cấp. Nhưng điều này có thể thay đổi trong một đêm. Cuối cùng, Giáo sư Ben Lim, đại học Manila nghĩ rằng, tuy phong trào đấu tranh có khả năng lật đổ bà Arroyo, nhưng chưa có gì bảo đảm là sẽ có một người thay thế xứng đáng hơn.
Tú Anh
(Ảnh : Reuters)

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2008





TRUY NẠP CHƯƠNG TRÌNH

QUAN HỆ IRAN - IRAK : Lật sang trang mới

02/03/2008_ Tổng thống Iran bắt đầu chuyến công du mang tính lịch sử tại Irak. Chính quyền Teheran hứa cung cấp một tỷ đô la tín dụng để tái thiết nước này.
Lần đầu tiên, Tổng thống Iran viếng thăm Irak, 20 năm sau một cuộc chiến khốc liệt đã khiến cho một triệu người thiệt mạng.

Thông tín viên Shiavez Ghazi tường trình từ Teheran : « Chuyến viếng thăm lịch sử của Tổng thống Iran Ahmadinejad diễn ra 20 năm sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Iran-Irak khiến một triệu ngừoi bị chết, đồng thời chuyến đi này cũng diễn ra năm năm sau khi kẻ thù không đội trời chung của Iran là Sadam Hussein bị lật đổ. Tại Bagdad Tổng thống Ahmadinejad sẽ gặp gỡ các đồng minh của mình. Thực ra thì cả các lãnh đạo thuộc hệ phái Shia ở trong Quốc hội và chính phủ Irak cũng như Tổng thống người Kurdistan Talabani đều là những đồng minh của Iran từ khi Sadam Hussein còn nắm quyền. Chuyến viếng thăm đầu tiên của một tổng thống Iran đến Irak kể từ sau cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 chứng tỏ sự ủng hộ của Iran đối với chính phủ của thủ tướng Irak Nouri al-Maliki. Trái với việc Hoa Kỳ vẫn tố cáo Teheran ủng hộ các nhóm khủng bố ở Irak, các nhà lãnh đạo Iran luôn khẳng định họ ủng hộ chính quyền Bagdad. Tổng thống Amadinnejad tuyên bố chuyến viếng thăm của ông không nhằm chống ai, ở đây ông muốn ám chỉ Hoa Kỳ với 160 ngàn lính vẫn đang có mặt tại Irak. Tuy nhiên Teheran vẫn lên án Hoa Kỳ chiếm đóng Irak và khẳng định đó chính là nguyên nhân của tình hình mất an ninh tại Irak. Cuối cùng thì chuyến viếng thăm của tổng thống Ahmadinejad cho thấy Iran đang xích lại gần với các Ả rập mặc dù trong khu vực vẫn còn có những lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng lớn của một nước Iran theo hệ phái Shia ».

Đối với Tổng thống Iran, chuyến công du của ông tại Irak mang nhiều ý nghĩa. Đầu tiên hết, đó là lật sang một trang sử khác trong quan hệ Iran-Irak, để chứng tỏ với công luận thế giới vai trò tích cực của Teheran trong nỗ lực ổn định khu vực nói chung và tái thiết Irak nói riêng. Các nguồn tin thân cận với Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad tiết lộ rằng Quốc trưởng Iran sẽ cung cấp một tỷ US$ tín dụng cho Irak. Bằng hành động kể trên, Iran muốn củng bố quan hệ kinh tế song phương, vốn đã phát triển ngoạn mục kể từ 2003 cho tới nay. Trao đổi mậu dịch giữa đôi bên ngày nay đạt 10 tỷ US$. Các doanh nhân Iran hiện diện khắp nơi tại Irak. Đường biên giới chung trải dài trên hơn một ngàn cây số không còn là chiến tuyến như cách nay 20 năm, mà đã trở thành nơi buôn bán giao dịch ngày một nhộn nhịp, để Iran cung cấp cho Irak điện lực, năng lượng, khí đốt, nhu yếu phẩm và nhiều hàng hoá khác. Cần nhắc lại rằng Iran, với lãnh thổ to lớn gấp ba lần Irak và dân số cũng đông gấp ba, hiện nay là cường quốc kinh tế thứ nhì tại Trung Đông.

Trong lịch sử, Iran đã nổi lên, đạt tầm vóc đế chế Trung Á. Kể từ thế kỷ 19 trở đi, Iran được xem là quốc gia trụ cột cho toàn khu vực này. Thế nhưng, Cách mạng Hồi giáo năm 1979 đã gây rất nhiều lo ngại cho các quốc gia láng giềng và Ả rập, bởi lẽ Iran nắm giữ vai trò thủ lĩnh hệ phái Shia và có khả năng huy động đông đảo các cộng đồng theo hệ phái này trong các quốc gia khác như Irak. Nghịch lý to lớn của cuộc chiến trah Irak do Hoa Kỳ tiến hành, đó là dẫn đến việc thành phần theo hệ phái Shia thân Iran đang nắm giữ quyền lực trong chính phủ Irak. Trong khi đó, nhiều quốc gia Tây phương cũng như Ả rập rất e dè trước sự lớn mạnh của Iran. Họ sợ rằng cán cân lực lượng trong khu vực sẽ bị đảo lộn. Tình trạng này thúc đẩy Iran xuất hiện trước công luận thế giới như người xây đắp cho sự ổn định, chứ không gây ảnh hưởng tiêu cực cho các láng giềng. Ngoài ra, chuyến công du của Tổng thống Ahmadinejad ngày hôm nay tại Irak còn muốn chứng minh rằng nước này đã thoát ra khỏi thế cô lập mà Hoa Kỳ và Anh quốc, bằng vành đai quân sự tại Afghanistan và Irak đã muốn thiết lập chung quanh Iran.

Tuy nhiên, thế cờ còn bất phân thắng bại giữa Iran và Hoa Kỳ. Vòng đàm phán về Irak giữa hai nước đã diễn ra ba lần nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Còn tại Liên Hiệp Quốc, Washington vẫn không ngớt gây áp lực để Hội đồng Bảo an trừng phạt thêm Teheran vì những nghi vấn về chương trình hạt nhân Iran. Tuy vậy, cuối năm 2006, tại Hoa Kỳ, bản báo cáo Baker – Hamilton đã mở ra triển vọng đối thoại giữa Washington và Teheran. Nói một cách khác là công nhận vai trò cường quốc của Iran trong khu vực Trung Đông. Thế nhưng, từ đây cho tới khi Tổng thống George Bush mãn nhiệm, kịch bản này khó mà thực hiện nổi. Hệ quả là Irak vẫn bị giằng co giữa hai thế lực, một bên là Washington và bên kia là Teheran.
Bảo Thạch
(Ảnh : AFP : Tổng thống Iran được tổng thống Irak đón tiếp tại Bagdad ngày 2 tháng 3 năm 2008)

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2008





TRUY NẠP CHƯƠNG TRÌNH

LB NGA : Kinh tế đi lên, dân chủ thụt lùi dưới thời Poutine.

01/03/2008_ Nói một cách công tâm thì ai cũng nhìn nhận rằng nước Nga ngày nay hoàn toàn khác với nước Nga đầy rối loạn mà cố tổng thống Boris Eltsine để lại vào năm 1999, khi ông Vladimir Poutine lên nắm quyền. Nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của ông Poutine đã được đánh dấu bằng nhiều cải tổ quan trọng trong các lĩnh vực tư pháp, thuế khóa và ruộng đất. Nhờ giá dầu tăng vọt trong những năm qua, ngân sách của nước Nga trở nên dồi dào, thậm chí Matxcơva đã trả sạch món nợ nước ngoài. Với mức lương thực thụ tăng 15 %, sức mua của người dân Nga đã tăng gấp đôi trong tám năm qua. Trong năm 2007, kinh tế Nga đạt mức tăng trưởng 8,1%.

Nhưng đằng sau điều được coi như là phép lạ kinh tế này là những yếu kém đáng kể. Trước hết, nền kinh tế của Nga thật ra chỉ dựa trên những tập đoàn độc quyền về năng lượng và nguyên liệu do Nhà nước kiểm soát thông qua việc nắm 40% vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoại thương của Nga hiện chỉ chiếm 2 % mậu dịch toàn cầu, chủ yếu là xuất khẩu dầu khí và vũ khí. Bên cạnh đó, dân số nước Nga không ngừng sụt giảm từ 173 triệu năm 1992 đến năm 2007 chỉ còn 141 triệu. Theo dự báo, đến năm 2050, dân số nước Nga sẽ chỉ còn vào khoảng 107 triệu. Nạn tham nhũng vẫn rất trầm trọng vì theo bảng xếp hạng về minh bạch và Nhà nước Pháp quyền, nước Nga đứng hạng 143 trên 175 quốc gia.

Về mặt chính trị, tiến trình dân chủ hóa ở Nga không những không đi tới, mà còn thụt lùi, sau tám năm ông Poutine cầm quyền. Cuộc bầu cử tổng thống ngày mai là một minh chứng rõ rệt. Vị tân Tổng thống Dmitri Medvedev sẽ không do người dân Nga trực tiếp bầu lên mà do ông Poutine chỉ định. Cho nên, trong chiến dịch vận động tranh cử vừa qua, chẳng hề có tranh luận chính trị. Báo chí do điện Kremlin kiểm soát không dành một không gian nào cho những tiếng nói đối lập. Chính vì nhiều cử tri thấy rằng có đi bỏ phiếu hay không thì ứng cử viên của Poutine cũng thắng cử, cho nên có nguy cơ là tỷ lệ đi bầu ngày mai sẽ rất thấp. Thành ra, chính quyền các điạ phương trong những ngày qua đã tìm đủ mọi cách để kéo cử tri đến phòng phiếu, từ việc doạ sẽ cắt tiền thưởng đối với những ai không chịu đi bỏ phiếu, cho đến bày trò xổ số với lô độc đắc là một chiếc xe hơi hay một cái tủ lạnh.

Tại Nga hiện nay, dân chủ không những không tồn tại mà còn bị khinh thường, vì nó bị đồng hóa với hỗn loạn dưới thời ông Elsine. Sở dĩ dân Nga đa số vẫn ủng hộ ông Poutine chính là vì ông đã tái lập được sự ổn định, nhưng đó là một sự ổn định dựa trên cơ cấu quyền lực độc đoán. Nhà triết học Nga Mikhail Tchernikov cách đây vài ngày đã tóm lược tình hình nước Nga hiện nay như sau : « Dưới sự lãnh đạo của Poutine, nước Nga vẫn chưa thoát ra khỏi tình thế đã kéo dài hàng mấy thế kỷ qua. Chúng ta vẫn cứ chuyển từ hỗn loạn sang toàn trị, mà không bao giờ đạt sự ổn định giữa hai thái cực đó ».
Thanh Phương
(Ảnh : frivmo.com)